Tôi cũng vậy thôi, không có ngoại lệ. Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê bên bờ ngã ba sông. Nơi đây là hợp lưu của sông Long Đại và sông Kiến Giang để tạo đầu nguồn con sông Nhật Lệ. Thủy tổ tiền bối của Làng và các dòng họ đến khai khẩn, lập nghiệp vùng đất hứa này trong đó có cụ Thủy tổ dòng tộc họ Hoàng của chúng tôi. Các cụ đã chọn vùng đất đầu sóng ngọn gió, một bán đảo cù lao trù phú, nhưng đầy thử thách căm go. Làng tôi có đầu làng gối đầu lên đuôi dòng Kiến Giang, cuối làng một cánh đồng rộng lớn phì nhiêu và chạy sát dòng Nhật Lệ là cánh đồng màu tươi tốt. Phía tây của làng là cuối dòng Long Đại đổ về sông Nhật Lệ trải dài khoảng 2.500 mét, từ giữa Cồn Long Đại (còn gọi Cồn Hà) đến Hói Am. Và được mặc định như vậy vào tận dãy rừng Trường Sơn (từ đàng Cánh Nạng đến Khe Đá Bạc sát Nghè Hữu Phan). Giữa ngã ba sông có “Cồn nổi” mà anh bạn tôi đã viết bài thơ “Cồn Nổi” đầy ắp những kỷ niệm và cảm xúc. Phía đông của làng là một cánh đồng lúa phì nhiêu màu mỡ có diện tích khoảng chừng 500 ha. Tiếp giáp với cánh đồng phía bắc là cánh đồng làng Hữu Phan. Ranh giới của hai cánh đồng là con kiệt rộng chừng 5 mét chạy từ Bợc Lỡ bờ sông đến cánh đồng làng Tả Phan (gọi Kiệt ngang). Kiệt tiếp theo vuông góc kiệt phía bắc đến bụi tre Một tiếp giáp với làng Trung Quán. Kiệt phân định phía đông của làng với cánh đồng làng Hiển Lộc và làng Trung Quán (gọi Kiệt dọc). Làng Trần Xá quê tôi không biết có từ bao giờ nhưng khi tôi sinh ra và lớn lên, làng đã được qui hoạch rất chi tiết và rất khoa học. Có lẽ các cụ gọi đầu và cuối làng là theo dòng nước chảy (đầu làng hướng Nam, cuối làng hướng Bắc). Như tác giả Thái Toản viết bài “ Làng bên ngã ba sông”. Làng Gia Tràn ban đầu nằm tựa lưng vào kiệt Ngang từ Miệu ông Đội đến phía trong Mã Chứa (còn gọi mã Mụ Kích). Từ Mã Chứa đến sát nhà ông Quang có con đường rộng 3 - 4 mét kéo dài tiếp giáp đến ngã ba sông và cũng từ Mã Chứa đến Chiếng Chùa. Hồi còn bé chăn trâu tôi thấy ruộng ở khu vực này kiến trúc giống vườn (nương). Các thửa ruộng qui hoạch theo nương ở hiện nay, rường (bờ ruộng) ngăn cách các thửa ruộng trồng cây rưới, mưng, dâm bụt hay cây hóp. Người vào làng sau cùng có lẽ là gia đình mụ Lẹt (ông Giập) và lò rèn của nhà ông thợ Ngộ. Ở đây là khu đất cao so với làng ở hiện tại. Về mùa lũ, làng đã chìm trong nước, nước đã phủ trắng cả đàng quan, nhưng bọn chăn trâu xóm dưới chúng tôi vẫn cợi trâu cho ăn trên các bờ ruộng ở đây bình thường. Theo tác giả Thái Toản: Các cụ Thủy tổ đào ao để chứa nước, nhưng theo suy đoán của tôi thì ngược laị. Làng Trần Xá được các cụ Thủy Tổ qui hoạch hoàn chỉnh, rất chi tiết và khoa học như sau:
7
Hệ thống giao thông nông thôn: Đường trục từ đầu làng đến cuối làng được lát đá (đàng Quan) và được kết nối với làng Hữu Phan (phía bắc), làng Trung Quán qua xóm Phát Một (phía đông nam). Nối vuông góc với đàng Quan là các trôỗng kéo dài đến nhà dân ở cuối sát cánh đồng rồi vượt qua đàng Quan đến tận bờ sông. Kề sát đàng Quan và các trôỗng là các con mương (ao). Mương chính to hơn, sâu hơn bắt đầu từ trôỗng ông Hâm đến nhà mụ Sự. Tới đây thì đổi hướng rẽ trái chảy vuông góc và rộng gấp ba con mương dọc, đến giữa cánh đồng màu nó quay phải trả lại hướng cũ chảy đến đưới Sác và xuống tận hoọc làng Hữu Phan. Kết nối với con mương (ao) chính là ao của các trỗng. Ao của trôỗng thoát nước cho vườn (nương) các gia đình và được kết nối đến cánh đồng trồng lúa. Mỗi khi mưa xuống nước từ cánh đồng lúa và trong làng chảy theo ao các trôỗng đỗ vào con mương (ao) chạy dọc theo đàng Quan dồn nén phía trước nhà mụ Sự. Đến đây con mương này rộng chảy qua một vài đoạn còn có những vùng trũng chứa nước và chảy thẳng vào mương lớn ra đôồng Đìa qua một cống bắc bằng đá rộng tương đương với con mương lớn. Đến đây tôi có một nguyện vọng đề nghị các nhà qui hoạch hiện nay hết sức quan tâm kế thừa và phát huy hệ thống thoát nước của Tiền Nhân để lại cho làng Trần Xá tránh được những cơn ngập úng vào các mùa mưa bão...
17
Về vấn đề cấp nước: Khi mới thành lập làng dân cư đang còn ít nên các cụ Thủy tổ các dòng họ qui hoạch dân ở từ nhà ông Hạ đến hết đất dòng họ Hoàng chúng tôi (hiện nay anh Đức, ông Vinh đang ở). Đầu làng có chiếng Đa cuối làng có chiếng Chùa để cấp nước sinh hoạt. Sau này dân cư đông dần thiếu nước dùng về mùa khô nên làng đã đào thêm chiếng Hồ. Còn chiếng Thùng do thủy tổ của cư dân Chăm để lại... Những Chiếng nước này các cụ quản lý theo hương ước Làng chặt lắm. khi múc nước về mùa khô phải dùng cành vọt (sào dài). Trâu không được bén mảng đến bờ Chiếng, nếu ai vi phạm bị làng phạt rất nặng. Nước dùng cho trâu uống có hai hồ lớn là Luôn và Bàu, mỗi hồ rộng chừng 2-3 ha. Luôn và Bàu là hai vùng đất trũng xung quanh được đắp bờ cao dự trữ nước cho trâu uống về mùa khô, đồng thời vừa là hồ cá nước ngọt tự nhiên cho dân làng. Để đảm bảo tính công minh làng bầu ra một ông quản lý gọi là ông Khoán. Có lẽ ông khoán cuối cùng thời phong kiến của làng là ông khoán Tắc (bố của ông Tắc hiện tại). Ông Khoán ngoài việc quản lý các chiếng nước, còn quản cả đồng ruộng. Ruộng của làng sau khi cấy xong, lúa bén rể vào thời con gái, trâu không được chăn trên các bờ ruộng nữa, mà phải cho sang các bãi chăn ở bên rú. Nếu trâu nhà nào không tuân theo chỉ cần bước ra các bờ ruộng là lập tức bị ông Khoán phạt vạ.
6
Việc bố trí dân cư: Cộng đồng dân cư quê tôi sinh sống theo dòng họ và chủ yếu là nằm phía trong đàng Quan. Thủy tổ các dòng họ đến lập nghiệp ngày đầu còn sơ khai đất rộng, nên các cụ qui hoạch đất ở cho các gia đình rộng. Mỗi dòng họ qui hoạch cho dăm bảy thế hệ kế tiếp. (Tôi xin chỉ dụ họ Hoàng chúng tôi có đất từ nhà anh Thiệp đến chiếng Chùa; Dòng họ Nguyễn Đình từ nhà Ông Tuệ đến nhà Ông Nguyễn Đình Khâm; dòng họ Nguyễn Mâụ từ nhà ông Cổng đến tiếp giáp nhà ông Hải- và từ nhà ông Kỳ đến nhà ông Thái Toản)…Khi tôi lớn lên, đầu Làng có đình cuối làng có chùa giữa làng có nhà thờ. Ngoài ra làng còn có nghè, miếu kết hợp với nhiều yếu tố tâm linh khác.. và hương ước của làng, qui ước của tộc họ, văn hoá cộng đồng, rồi tình làng nghĩa xóm vv... nên dân làng tôi đã sống rất đoàn kết, không có sự phân biệt tôn giáo hay tính ngưỡng...

Tuổi thơ của tôi đựơc gắn kết với cây đa bến nước cùng lũ trẻ chăn trâu. Khi tôi có sự hiểu biết, quê tôi đã xảy ra cuộc cách mạng cải cách ruộng đất. Trong cuộc đời trẻ thơ của tôi đây là kỷ niệm buồn, nhưng cái gì rồi cũng qua đi. Còn bọn trẻ chúng tôi thì hàng ngày vẫn vô tư lang thang từ bến Nghè đến miệu ông Đội để chăn trâu, bắt chim, hái quả .
2
Khu vực Miệu ông Đội linh thiêng, thần bí đối với lũ chăn trâu chúng tôi. Ở khu vực này nhiều cây cổ thụ, như bàng, bứa, xoài, cắc bụp và nhiều cây dây leo chằng chịt, rất rậm rạp. Ngoài ra khu vực này có nhiều mộ, miếu thờ và nghe nói là lắm ma nữa…. Ở đây miếu và mộ chí của các dòng họ xây cất chăm sóc rất cẩn thận, trong đó có cụ Thủy tổ họ Hoàng chúng tôi. Đối diện khu này là một vùng đất trũng gọi là Sác. Sác có nhiều cây cổ thụ mà đặc trưng là cây mưng và rưới, hai loại cây này mọc um tùm dọc con mương. Cây mưng mọc hai bờ con mương lớn từ nhà mụ Lô đến hoọc làng Hữu Phan và kéo dài vuông góc ra tận bậc Lỡ ở ngoài sông. Thỉnh thoảng có cây sung, đa mọc giữa kiệt ngang. Còn cây rưới được trồng xung quanh nương Chùa kéo dài đến miệu ông Đôị.
16
Bến Nghè bắt đầu từ hai “Cụ Đa” già đến nhà ông Hướng. Ở đây có nhiều miếu thờ nằm trên gò đồi…, nhiều cây rậm rạp như khu vực miệu ông Đội. Trước Nghè là bợc Lỡ, cứ mỗi mùa lũ qua đi, đất ở đây lở vào một ít và để lại ít đất thạch cao trắng muốt. Lũ trẻ lấy về nặn những con tò he, tu huýt, trâu, dê, chim cò… những con vật mà chúng yêu thích. Bọn trẻ chúng tôi thường hay trèo đa, “Đa Bà” dưới “Đa Ông” trên. Cây “Đa Ông” khó trèo, bọn trẻ ít quấy phá nên chim về đây làm tổ nhiều. Các loài chim gồm bìm bịp, cà cưỡng, quạ, tu hú vv… Người trèo đa giỏi nhất phải kể đến là anh Sơn Quảng. Anh vừa hái đa vừa cõng em Đoài (hay em Khê) sau lưng. Mỗi khi hái được một trấy đa léng nếu ngó lui thấy em há miệng là anh đút tọt vào mồm luôn…Nếu phát hiện có tổ chim trên các cành cao, anh leo lên lấy được trứng hay bắt được chim con. Cây “Đa Bà” tính tình mát mẻ dễ trèo, nhiều quả hơn nhưng không ngon bằng cây “Đa Ông”. Tuy vậy vào ngày rằm hay mồng một cây “Đa Bà” thường được các cụ bà ở quê mang cau trầu ra đây thắp hương. Nhiều cụ còn mang bình vôi để thờ cúng. Dưới cây “Đa Bà” có lối xuống sông và một bãi trống dùng để họp chợ. Chợ Hôm không lớn, nhưng cũng đủ các sản vật nông nghiệp, nhất là hải sản của sông Nhật Lệ, Kiến Giang và Long Đại do xóm vạn chài cùng các nơi mang đến. Ở đây, trên bến dưới thuyền rất tấp nập đông vui, biểu hiện một miền quê luôn yên bình. Giữa cây “Đa Ông” và “ Đa Bà” là bến tắm. Bến được xếp bậc lên xuống bằng đá sạch sẽ. Phía trong hai “Cụ Đa” là trường tiểu học. Trường có hai khu; khu dưới nằm phía ngoài nhà ông Tuyên, khu trên nằm sát nhà ông Cua. Hai nhà quay mặt vào nhau, giữa là một khoảng sân rất rộng. Thanh, thiếu niên làng tôi xây dựng ở đây một sân bóng chuyền và một sân bóng đá. Những ngày hè nắng lửa, lũ trẻ chúng tôi tập trung ở đây đông lắm. Sướng nhất là leo cành đa vươn ra ngoài sông nhảy dù xuống. Đủ quân thì chia đôi đội hình chơi bóng đá, tụm kia chơi bóng chuyền, đứa trèo đa, đứa tắm sex thoả thích… Tuổi thơ của tôi là thế đó, nếu viết nữa, rất ngại mất thời gian của bạn đọc. Cho phép tôi xin dừng lại ở đây.
3 HIEUTRAN PHOCHI 6.2016 FILEminimizer 1466655490319
Bài viết ở trên tôi muốn trao đổi những gì tôi biết, chắc rằng có những chỗ chưa đúng hoặc chưa chính xác, chúng ta cùng trao đổi để có những tư liệu giúp các nhà viết sử và qui hoạch cho làng Trần Xá hiện tại và tương lai tham khảo nhưng phải đảm bảo tính kế thừa những gì ưu việt mà các cụ Thuỷ Tổ để lại. Bài viết của tôi đã được anh Bá Hùng và anh Thanh Tùng hiệu đính.
                                   Hà Nôị, tháng 1- 2015
                                      H.V.D