Bản in     Gởi bài viết  
TRẦN XÁ QUÊ TÔI 

Trang website langtranx.vn nhận được bài viết của tác giả Nguyễn Đức Lý có tựa đề TRẦN XÁ QUÊ TÔI với " rất đỗi tự hào mỗi khi nhắc đến quê hương Trần Xá của mình, nơi có dòng sông, cây đa, bến nước, sân đình luôn gắn với tuổi thơ của tôi" trong đó có nhiều tư liệu quý về những năm tháng chiến tranh của đất mẹ yêu thương.

Trân trọng giới thiệu đến quý vị cùng bạn đọc.

      Đồng Hới là nơi chôn rau cắt rốn của tôi, thế mà tuổi thơ lớn lên chưa đủ cảm nhận hết về thành phố Hoa hồng thì phải theo gia đình sơ tán lên quê nội. Tôi vẫn còn nhớ như in cái đêm của năm 1965, tiếng loa phát thanh thông báo đế quốc Mỹ sẽ ném bom Đồng Hới, rồi hàng đoàn người hối hả đi sơ tán. Gia đình tôi cũng nằm trong đoàn người đó, mẹ tôi gồng gánh đi trước, mấy anh em tôi chạy lon ton theo sau. Lên đến Văn La thì trời vừa sáng, vào nghỉ tạm nhà mẹ chị Uyên, đến chiều mới có đò trên quê về đón.    
 
     Kể từ đó, tuổi thơ còn lại của tôi cho đến khi trưởng thành luôn gắn bó với quê hương Trần Xá yêu dấu.
     Thực ra, quê tôi nghèo lắm, cuộc sống lắm gian truân, cơ cực, sống chủ yếu dựa vào cày sâu cuốc bẩm ngoài đồng và bươn chải trên rừng tìm kế sinh nhai. Gia đình tôi thuộc diện sơ tán, được hưởng các chính sách trợ cấp gạo hàng tháng nên đỡ vất vả hơn bà con cô bác trong làng. Tuy nhiên chính sự nghèo khó ấy mà mấy anh em tôi được tôi luyện, được trải nghiệm những công việc thường nhật của người dân quê tôi, như đi mót lúa, đi nơm cá, tát cá, đi củi bán, đi đốt than, đi tìm trầm hương…
     Nhớ lại những kỷ niệm, với tôi có lẽ không bao giờ quên được: Đó là lần ấy anh em đi tát cá ngoài kênh, tát từ sáng sớm cho đến chiều, vừa tát vừa xem máy bay Mỹ cắt bom trên đầu bắn phá cầu Long Đại. Khi nước sắp cạn, đã thấy cá chạy xung xăng thì bờ bị vỡ, mấy anh em tìm cách cứu vãn, kể cả lấy người nằm ngang chắn nước nhưng vẫn không được, cuối cùng vừa khóc vừa cười ôm gàu đi về. Đó là lần đi đốt than trên Đôộng Trữa với anh Kỳ. Khi lửa đã cháy đều, tối lấy soong vo gạo đặt lên đống củi đang cháy, không may soong gạo bị lật úp vào đống củi không lấy ra được, trưa đó phải nhịn đói. Chiều đến, khi khều than bỏ vào bao mới phát hiện ra cái soong đã chảy ra và vón thành một cục bằng nắm tay, hai anh em mặt nhem nhuốc cầm cục nhôm lên vừa xuýt xoa, vừa cười ra nước mắt. Đó là lần đi trầm với anh Quê và cháu Hiếu (con anh Đương) tại khe Bạch Đàn (đường 10) bị lạc đường khi quay về trại, phải ngủ lại giữa rừng với mấy anh em cùng quê mang theo trong người một ít bột sắn dây nên ba chú cháu được chút cầm hơi qua đêm. Sáng sớm hôm sau, trên đường tìm về trại “Mệ cho” một cây Trầm có dầu kha khá nên chuyến đó về mỗi người được 4.000 đồng. Có lẽ đó là lần “trúng Trầm” nhiều nhất trong chuỗi theo đuổi trầm kỳ của tôi…   
     Khó khăn vất vả là thế, song chính mảnh đất này đã giang tay che chở cho tôi khi hai lần suýt chết vì bom đạn Mỹ. Một lần vừa ở Cộn lên (hồi đó về ở với chị Dung để trông giữ cháu Kiều Oanh, vừa đi học lớp 2), tôi được anh Cường (em chị Xoa) dẫn ra Giếng Thùng chơi, đúng lúc Mỹ đến ném bom Trần Xá. Khi nghe máy bay rít cắt bom, anh Cường và tôi chạy đến nấp vào mép ruộng, vừa nằm xuống thì nghe tiếng bom nổ điếc tai, bùn đất bắn đầy áo quần, mặt mũi. Ngước nhìn lên thấy đất đá, nhà cửa bay loạn xạ, sau này mới biết loạt bom đó có quả trúng nhà ông Lập, một quả nổ chậm cắm vào vườn nhà mạ Nậy, hú vía một quả nổ chậm cắm cách chỗ tôi nằm khoảng chừng 15 mét (sau này đoạn đường đi qua đó bị trũng xuống một thời gian khá dài). Một lần vào mùa ổi tôi được mụ Bun cho lên trèo hái cây ổi lâu đời to và sây quả nằm ngay cạnh hội trường cơ quan UBND huyện (Lúc này UBND Huyện sơ tán về Trần Xá). Lúc đang trèo hái ổi trên cây thì máy bay đến, mụ Bun hối tôi xuống chạy vào hầm nấp (gọi là hầm nhưng thực ra là một cái hào chữ Z đào giữa nhà, trên gác mấy bó củi). Thấy không an tâm, mụ Bun bảo tôi chạy về nhà (đi đường băng khoảng 200m), vừa chạy về đến cửa hầm nhà mình thì bom nổ hất tôi vào phía trong, đầu đập vào cột hầm đau điếng. Hết bom nổ, ra khỏi hầm mới thấy cảnh tượng ghê gớm: Nhà mụ Bun biến đâu mất, thay vào đó là một miệng hố bom sâu rộng (nghe nói là bom tấn hoặc hố bom đôi). Mụ Bun bị bom chết rất thương tâm, bà con tìm khắp nơi mới lượm được một ít thịt pha lẫn cát; nhà tôi cũng bị một quả bom tạ sau vườn; một nhánh ổi lớn ở chỗ mụ Bun bay đến cắm ngay giữa nhà. Mẹ tôi đi đâu đó về thấy nhà cửa tan hoang đứng giậm chân mà khóc. Sau vụ này gia đình tôi lần lượt theo Ba tôi ra Thanh Hóa sơ tán (Ba tôi được cử làm trưởng đoàn sơ tán  của huyện). 
     Quê hương là vậy, mọi thứ tưởng như đời thường trong cuộc sống thường nhật của mỗi người đã tự nó lưu lại trong ký ức và thỉnh thoảng bỗng dâng trào lên trong tâm trí, trong khóe mắt người xa quê. Mỗi khi có dịp gặp mặt, mấy anh em lại đưa ra hàn huyên vui vẻ.  
     Nói về bà con, họ tộc, thú thực tôi cũng hơi “tối dạ”, nhất là mối quan hệ ràng buộc trong làng, trong họ, có những người biết là bà con của mình nhưng quan hệ thế nào với mình thì đành chịu, mặc dù đã nhờ người am hiểu giải thích  nhiều lần. Thế mới biết bà con của mình ở quê đông đến mức nào. Họ Nguyễn Đức đông thuộc loại nhất nhì trong làng, đi làm ăn xa cũng nhiều. Mỗi lần tổ chức Lễ hội Chầu lề mọi người từ Bắc chí Nam đều về tụ họp đông đủ, được nghe ông trưởng họ Nguyễn Đức Nghĩa báo cáo quá trình hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Đức, ai ai cũng cảm thấy tự hào về dòng họ của mình, một dòng họ có truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau; một dòng họ chịu thương chịu khó dành dụm tất cả để cho con ăn học thành người; một dòng họ có hội Khuyến học được vinh danh, kính nể. Việc lưu giữ Lễ hội Chầu lề 5 năm một lần là nét đẹp văn hóa của dòng họ Nguyễn Đức của tôi. 
     Ông nội tôi là đời thứ 9 của họ Nguyễn Đức. Ngày 26 tháng 6 âm lịch là ngày giỗ của Ông, ngày ăn sâu vào tiềm thức của mấy anh em tôi, bởi lúc Ba tôi còn sống, năm nào cũng tổ chức giỗ ông tại nhà tôi, anh em tôi trông ngóng đến ngày đó để được bà con đến đông vui, được ăn cúng ngon miêng. Sau này, khi ba tôi mất, cứ 3 năm một lần vào ngày 26 tháng 6 âm lịch tổ chức giẫy mả chung tại nhà ông Thơm (Thơm cha) rồi chuyển sang nhà anh Quê. Có lẽ vì bà con nội thân nên mỗi lần tổ chức tôi thấy ấm cúng vô cùng. Ông nội tôi có rất nhiều cháu chắt nội ngoại, riêng ở Đồng Hới đã có hơn 40 người. Nhờ sự đề xướng và tổ chức của anh Giang, chị Dung mà việc họp mặt truyền thống đầy ý nghĩa của bà con ở Đồng Hới được lưu giữ hơn 7 năm nay. Riêng tôi không ở Đồng Hới nhưng được vinh dự tham gia với “Hội” từ đầu đến cuối.
     Về với Trần Xá hôm nay chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước sự đổi thay của quê hương mình. Cổng làng, đình làng, chợ làng uy nghi, tráng lệ đã nói lên sự sung túc, no đủ của bà con cô bác mình. Con đường cái quan năm xưa đã đươc thay bằng hệ thống đường bê tông chạy đều khắp từ đầu đến cuối làng, đi không bị bẩn chân. Hai cây đa cổ thụ xưa của làng không còn nữa nhưng bến đò vẫn còn đó, bến đò rộng rãi hơn, vẫn là nơi âm thầm đưa tiễn người con quê hương về với ông bà tổ tiên.
     Với tôi, rất đỗi tự hào mỗi khi nhắc đến quê hương Trần Xá của mình, nơi có dòng sông, cây đa, bến nước, sân đình luôn gắn với tuổi thơ của tôi. Tết nào cũng vậy, cứ sáng mồng một tết, cả nhà lên quê thắp hương cho ông bà, đi thăm bà con cô bác, uống chén rượu nồng trong tình làng nghĩa xóm. Ra tết còn có hội lớp từ thời Vỡ lòng do thầy Lô, cô Tào dạy tại làng năm xưa. Vui lắm, cái hội lớp có một không hai này đủ các thành phần, sau một năm tổ chức lại có thêm một số bạn mới xin tham gia, có người ở Huế, ở Đông Hà biết chuyện cũng về nhập hội. Không biết vì sao hồi đó lứa của bọn tôi đông thế, một làng mà có đến 2 lớp Vỡ lòng, bây giờ thành ông, thành bà cả rồi nhưng ngồi kể lại cứ ngỡ chuyện hôm qua.
 
     Thiết nghĩ, mỗi con người sinh ra đều có quê hương của mình, quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quý và chính quê hương luôn là điểm tựa vững vàng cho con người trong mọi hoàn cảnh, là nguồn cổ vũ, động viên, là đích hướng về cái tâm của con người. 

 

     Trần Xá quê tôi là thế đấy.

 

                                                                                                                            Quán Hàu, ngày 15/7/2015
                                                                                                                                      Nguyễn Đức Lý
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 

[Trở về]