Bản in     Gởi bài viết  
LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN MẬU LÀNG TRẦN XÁ 
 Ở đời, nên nhớ "Con người có tổ tiên như cây có gốc, như nước có nguồn".
 

 I. ĐỨC TIÊN TỔ DÒNG HỌ NGUYỄN MẬU CỦA CẢ NƯỚC:

 

           Đức Tiên tổ dòng họ Nguyễn Mậu của cả nước là ngài Nguyễn Nhữ Lãm. Ngài sinh năm 1378, mất năm 1437, quê ở xã Thiên Liệu, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Theo Bách khoa toàn thư, Ngài là công thần khai quốc nhà Lê sơ. Thân phụ của Ngài là ngài Nguyễn Công Thân. Ngài Nguyễn Công Thân gia đình giàu có, bà vợ có lòng từ thiện, hay giúp đỡ người nghèo khó. Ngài Nguyễn Công Thân đậu tiến sỹ, làm quan phò mã cuối đời nhà Trần.

          Ngài Nguyễn Nhữ Lãm người cao to, da đen, học hành thông minh, có tài hùng biện. Trong hoàn cảnh Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh ở Trung Quốc đem 50 vạn quân sang đánh nước ta, ở đất Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa có bậc hiền tài là Lê Lợi đứng lên chiêu binh tụ nghĩa để đánh quân Minh. Được tin đó, ngài Nguyễn Nhữ Lãm đem cả gia đình vợ con từ tỉnh Hà Nam vào trú tại xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay rồi chiêu mộ người dân vừa khai hoang vừa luyện binh nghiệp. Khi đã có đội quân tinh nhuệ, ngài Nguyễn Nhữ Lãm đến gặp Lê Lợi xin tụ nghĩa; được Lê Lợi chấp thuận, giao cho Ngài trọng trách chỉ huy xưởng rèn vũ khí và phụ trách quân lương.


          Lúc bấy giờ, có tên Đỗ Phúc thù oán với Lê Lợi, dẫn đường cho giặc đào mộ phụ thân Lê Lợi và bắt vợ con Lê Lợi để buộc ông phải đầu hàng. Nhờ có dân chài mật báo nên biết hài cốt của phụ thân Lê lợi treo sau lái của thuyền giặc, Lê Lợi rất lo lắng. Đợi đến đợt lũ tiểu mãn, ngài Nguyễn Nhữ Lãm cùng với 5 tướng sỹ khác dùng thuyền giả làm dân chài trên sông chèo đến gần thuyền giặc. Đang đêm, Nguyễn Nhữ Lãm đội cỏ trên đầu bơi tới thuyền giặc, lấy được hài cốt phụ thân Lê Lợi đem về. Năm 1422, quân Lê lợi bị địch bao vây tại Ná Sách, ngài Nguyễn Nhữ Lãm tìm được đường tắt dẫn đội quân Lê Lợi bí mật chuyển về Thúy Khối Sách rồi xuất kị binh đánh, quân địch đại bại. Thời gian sau, nghĩa quân hết lương thực, Lê lợi phải dùng rau rừng và giết voi để nuôi quân sỹ. Trước tình cảnh đó, Nguyễn Nhữ Lãm vào trong dân, vận động dân ủng hộ lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân. Trong một trận đánh năm 1424, quân Lê lợi thắng giòn giã, buộc quân Minh phải đầu hàng rút quân về nước. Tháng 4 năm Mậu Thân 1428, Lê lợi lên ngôi vua và sau đó xét công, ban thưởng cho ngài Nguyễn Nhữ Lãm "đặc tứ quốc tính", tức là mang dòng họ của vua. Rồi vinh danh cho Ngài là "Vinh thăng suy trung phụ quốc công thần nhập nội thượng thư lệnh, kiểm giáo thái bảo đình huyện hầu". Ngài là một trong 51 tướng sỹ được Lê Lợi ban thưởng danh hiệu "khai quốc công thần"

          Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Ngài từng làm sứ giả tới các nước Ai Lao (Lào), Chiêm Thành (từ Quảng Bình trở vào), vận động vua nước bạn giúp voi, ngựa và lương thực. Nhờ tài ngoại giao của Ngài, các nước đều đồng tình giúp đỡ.

Tháng giêng năm 1431, vua Lê Thái Tổ phái ngài Nguyễn Nhữ Lãm làm chánh sứ sang Trung Quốc đàm phán với nhà Minh. Nhờ tài hùng biện khôn khéo, thông minh của Ngài mà vua Minh từ bỏ ý đồ khôi phục nhà Trần, công nhận vương triều nhà Lê.

          Với những công lao to lớn đó, ngày 14 tháng 8 năm Thuận thiên thứ sáu 1433, vua Lê Thái Tổ (Lê lợi) phong cho ngài Nguyễn Nhữ Lãm chữ "Mậu", nghĩa là xanh, tốt (theo Bách khoa toàn thư). Từ đó, ngài Nguyễn Nhữ Lãm được đổi lại thành Nguyễn Mậu Lãm. Và, cũng từ đó, con cháu của Ngài mang dòng họ Nguyễn Mậu.

Các chức vụ đương thời của Ngài là: sỹ chí suy trung phụ quốc công thần, đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu nhập nội thị sảnh, đô tri thượng thư, thái bảo thức quận công, Nguyễn tướng công, phụ tứ quốc tính, Lê tướng công, tăng thứ quốc công tứ thụy trung tính.

          Ngài mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh Tỵ 1437, hưởng thọ 60 tuổi. Lúc mới mất, mộ Ngài táng ở làng Ngọc Lịch, nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân. Đến năm Cảnh Hưng thứ 10, năm Kỷ Tỵ 1749, vua Lê sai người tìm đất, cát táng lại mộ Ngài tại gò Mã Lăng thuộc xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay.
                                  Phần mộ hai ông bà hợp táng thành một ngôi.
 
II. HỌ NGUYỄN MẬU LÀNG TRẦN XÁ:
 
          Theo lịch sử và căn cứ vào tên các xã mục trong sách "Ô châu cận lục" của tác giả Dương Văn An biên soạn năm Ất Mão 1555, có thể nói rằng: Trong lịch sử nước ta, có 4 thời kỳ Nam tiến, mở rộng đất nước về phía Nam. Lần thứ nhất là thời kỳ đời nhà Lý. lần thứ 2 là thời Hồ Quý Ly, lần thứ 3 là thời kỳ hậu Lê và lần thứ 4 là thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh.

          Nếu xét về cuộc di dân thời Lý( sau năm 1075, vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem đại quân chinh phạt Chiêm Thành, ổn định tình hình, mộ dân lập ấp thì quá xa xưa, họ Nguyễn Mậu ta mới 18 đời, nên không phải (bởi theo cách tính, đời cách đời trong phạm vi chỉ từ 28 năm đến 30 năm). Nếu xét thời kỳ di dân lần thứ 2: thời Hồ Quý Ly, bắt đầu di dân từ năm 1403, thì cũng quá xa xưa, họ Nguyễn Mậu mới 18 đời nên cũng không phải. Hơn nữa, thời kỳ này chỉ di dân vào Thăng Hoa, Tư Nghĩa, tức là thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay. Nếu xét về cuộc di dân thời chúa Nguyễn Hoàng (thời Trịnh- Nguyễn phân tranh; khi chúa Nguyễn Hoàng từ Bắc vào, ngoài việc đem theo 1.000 quân, còn có nhiều người đồng hương, nhiều quan quân hai trấn Thanh Hóa, Nghệ An cùng gia quyến vào theo.) thì cũng không phải. Bởi Chúa Nguyễn Hoàng từ Bắc vào đổi tên phủ Tân Bình thành Quảng Bình năm 1604, cánh đây 411 năm, mà ta có 18 đời, thời gian dài hơn rất nhiều so với 411 năm. Vậy nên, Ngài thủy tổ của ta theo cuộc di dân vào đây phải thuộc thời kỳ hậu Lê. Bởi, dưới triều vua Lê Thánh Tông, năm 1471, vua đem quân  đánh chiếm kinh đô của Chiêm Thành. Sau đó, vua Lê Thánh Tông sát nhập đất Chiêm Thành vào nước Đại Việt. Từ đó, vua có chính sách mở rộng công cuộc khẩn hoang, có chiếu chỉ ban cử các quan xứ Bắc và xứ Thanh Hóa chiêu mộ nhân dân cùng binh lính di dân vào phủ Tân Bình (tức là tỉnh Quảng Bình ngày nay) khai khẩn ruộng đất, lập làng xóm, củng cố biên cương phía Nam Tổ quốc. Trong các cuộc di dân đó, đại tiên tổ họ tộc Nguyễn Mậu đã định cư ở mãnh đất Trần Xá. Như vậy, khẳng định rằng dòng họ Nguyễn Mậu chúng ta có nguồn cội từ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa(nếu tính Nguyễn Mậu, còn xa hơn nữa là từ tỉnh Hà Nam). Bởi vì, như đã nói ở trên, ngài Nguyễn Nhữ Lãm đưa vợ con từ tỉnh Hà Nam vào sinh sống ở Thanh Hóa để cùng Lê Lợi khởi nghĩa. Và sau đó, Ngài mới được vua Lê Lợi ban cho chữ "Mậu", đổi thành Nguyễn Mậu Lãm. Vậy nên, họ Nguyễn Mậu xuất phát từ đây.

          Vậy thì, thời gian Ngài thủy tổ của ta vào đây là khoảng năm nào?

          Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem quân đánh thắng Chiêm Thành, sau đó có chiếu chỉ kêu gọi nhân dân di tán vào phía Nam. Mà ông làm vua đến năm 1497 rồi mất; tính đến nay, họ chúng ta có 18 đời, như vậy, ta có căn cứ để nhận đoán rằng khoảng thời gian Ngài Thủy tổ họ của ta di cư vào đây đã trên 500 năm, khoảng từ năm 1490 đến 1497(vì do ràng buộc 18 đời, tương ứng đời cách đời trên dưới 29 năm. Không thể có khoảng thời gian rộng hơn, khoảng thời gian khác được).

          Trong cuộc di dân đó, đại tiên tổ tiền linh vị họ tộc Nguyễn Mậu cùng các vị thủy tổ họ Võ Văn, họ Đỗ, họ Hoàng là những Ngài đầu tiên đặt chân lên mãnh đất Trần Xá này. Đến đây, các Ngài nhìn xem phong cảnh, khảo sát địa hình, đất đai, phong thủy; nhận thấy vùng đất này gần núi, ven sông, phong cảnh hữu tình, đất đai màu mỡ dễ làm ăn, sinh sống và phát triển nên mới định cư, lập làng Trần Xá, mở đầu cho sự hình thành cư dân, sinh cơ lập nghiệp.

          Gia phả họ tộc Nguyễn Mậu của ta có lưu: "Đệ nhất thế- Đại tiên tổ tiền linh vị. Sắc phong: Khai khẩn rực bảo trung hưng- Mẫn tráp linh phục tôn thần chi vị".
          Ngày xưa, ở làng ta, hàng năm vào dịp xuân thu nhị kỳ làng đều tổ chức tế lễ, cúng rước. Rằm tháng 2, tiết trời đẹp đẽ, làng tế lễ cầu yên; mong cho làng xóm bình yên, ai ai cũng được khỏe mạnh, bình an, may mắn, gia đình an khang, nghĩa tình làng trên xóm dưới, lúc tối lửa tắt đèn có nhau, sống hòa thuận nơi "Nhất cận thị, nhị cận giang" này để cùng nhau xây dựng họ tộc, làng xóm. Rằm tháng 8, trời cao lồng lộng, trong xanh mát mẽ, làng ta tế lễ cầu tài; mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngành nghề phát triển, nhà nào cũng có của dư của để, nuôi dạy con cháu khôn lớn. Và, mỗi lần như thế, làng đều thỉnh rước sắc phong của họ Võ Văn, họ Đỗ, họ Nguyễn Mậu và họ Hoàng cùng một số dòng họ khác. Các bậc trưởng tộc của các họ có công khai khẩn làng đều được mời lên ngồi hàng trên.

                                       Kính thưa các vị !

          Cây có cội, nước có nguồn, đã là con người thì ai ai cũng có nguồn cội, gốc rễ, để tự trong sâu thẳm tâm can luôn hướng về tổ tiên, tri ân các đấng liệt tổ liệt tông.

          Năm nay(2015), hậu duệ đời thứ 15 của dòng họ Nguyễn Mậu tổ chức Lễ Chầu lề với sự hội tụ con cháu từ đời thứ 14 đến đời thứ 18. Đây là lễ tế, tri ân các bậc liệt tổ liệt tông, con cháu đến đây để chầu hầu tổ tiên, ông bà, nhớ về nguồn cội, đội ơn các bậc hiền nhân, các đáng tiên linh. Đồng thời, đây cũng là dịp để con cháu nội, ngoại gặp gỡ đoàn viên, tâm tình, hiểu biết nhau hơn để rồi sống có nghĩa, có tình với nhau hơn, có trách nhiệm với nhau hơn trong cuộc sống, trong cộng đồng.
 
          Bây giờ, tôi xin được nêu tóm lược tiểu sử của dòng họ Nguyễn Mậu để con cháu nội, ngoại hiểu biết thêm:

          Ngài thủy tổ là đời thứ nhất. Ngài được sắc phong "Đệ nhất thế- Đại tiên tổ tiền linh vị- Khai khẩn rực bảo trung hưng. Mẫn tráp linh phục tôn thần chi vị" (Nghĩa là: Ngài Thủy tổ của chúng ta là người có công khai khẩn làng ).

          Từ Ngài Thủy tổ đến đời thứ 9, mỗi đời chỉ sinh hạ được một Ngài(có thể vì lý do nào đó nên gia phả ghi chưa hết?). Trong đó, đời thứ 8, ngài Nguyễn Mậu Phụng có sắc phong "Đô đốc Phụng tường hầu".
 
*                                                   Đời thứ 9:
          Ngài Nguyễn Mậu Cần. Có tước là Giảng võ bá.
 
                                                  Đời thứ 10:
          Ngài Nguyễn Mậu Dương
Tước : Tham mưu sĩ tấn hầu
Vợ là bà: Trương Thị Chít. Người làng Đồng Tư, xã Hiền Ninh.
                                            Đời thứ 10 sinh hạ được:
1, Ngài Nguyễn Mậu chi vị  :   Thất tự
2, Ngài Nguyễn Mậu Ru -   ( đời thứ 15 chúng tôi gọi Ngài bằng Câm)
3, Ngài Nguyễn Mậu Lập
4, Ngài Nguyễn Mậu chi vị (viên tử )
5, Ngài Nguyễn Mậu chi vị (dưỡng tử)
 
*                                                      Đời thứ 11:
          Đời này có 5 người con trai, nhưng có 3 người mất sớm, chỉ còn lại 2 người có vợ con là Ngài Nguyễn Mậu Ru và Ngài Nguyễn Mậu Lập. Sau khi tách phái, con cháu của ngài Nguyễn Mậu Ru chính là chúng ta, thuộc phái nhất. Con cháu của ngài Nguyễn Mậu Lập thuộc phái hai, ở trên ông Đĩa ( chú Ngoạn, chú Khoát hiện nay ).
                             Đời thứ 11, là ngài Nguyễn Mậu Ru,  có 4 vợ:
-  Vợ thứ nhất là bà Nguyễn Thị Tịnh
                                                  Sinh hạ được 2 trai, 4 gái:
1, Ngài Nguyễn Mậu Truyện
2, Ngài Nguyễn Mậu Hộ
3, Bà Nguyễn Thị Cơ
4, Bà Nguyễn Thi Cách
5, Bà Nguyễn Thị Minh
6, Bà Nguyễn Thị Thuộc
 
- Vợ thứ 2 của Ngài không rõ họ tên, chỉ biết sinh hạ được một người con gái có tên là  Nguyễn Thị Đỏ
- Vợ thứ 3 của Ngài cũng không rõ họ tên, sinh hạ được 2 người con gái:
1, Bà Nguyễn Thị Trạm . Bà lấy ông Võ Hữu Thụy, trên chổ họ Võ Hữu ở trong làng.
2, Bà Nguyễn Thị Trần . Bà lấy chồng là ông Hoàng Văn Khinh, họ Hoàng ở trong làng.
- Vợ thứ 4 chính là Câm bà Ngô Thị Thu
          Bà quê ở làng Vạn Xuân xã Vạn Ninh. Là con gái của Thiếu bảo Ngô Đình Dái, ông làm quan ở triều đình.
          Câm ông Nguyễn Mậu Ru và câm bà Ngô Thị Thu sinh hạ được:
1, Ngài Nguyễn Mậu Đào
2, Bà Nguyễn Thị Hòe.  bà lấy chồng là ông Nguyễn Văn Chỉnh, trên chổ ông Kẹc, ông Rều.
 
*                                                    Đời thứ 12:
          Ngài Nguyễn Mậu Đào. Anh em chúng tôi gọi bằng Cố
Cố có tước là:  Hội chủ, Hữu công. Trợ tế đồng xã Tương hậu thần.
Ngày hôm nay, chúng ta tổ chức Lễ Chầu lề là đúng vào ngày mất của Cố (ngày 20/5).
                                          Cố Nguyễn Mậu Đào có 2 vợ:
- Vợ thứ nhất: Cố bà Nguyễn Thị Viết. Là con gái họ Nguyễn Văn trên chổ chú Tuyên, chú Chiểu, chú Đà.
                                      Sinh hạ được 8 người con, 6 trai, 2 gái:
1, Ông Nguyễn Mậu Liêu. Thất tự
2, Bà Nguyễn Thị Lan. Bà lấy chồng họ Nguyễn Đức, nơi chổ anh Tam.
3, Bà Nguyễn Thị Ngẫu. Bà lấy chồng họ Nguyễn Văn, nơi anh Tài, anh Tùng, anh Trung.
4, Ông Nguyễn Mậu Huân.  Là ông nội anh Cáo, anh Cổng.
5, Ông Nguyễn Mậu Thuyết- thường gọi là ông Sưu. Không có vợ con, mộ cát táng trong Lăng của anh Huy.
6, Ông Nguyễn Mậu Phê- là ông nội anh Ngò, cố nội của mấy anh em Học, Thụ, Thoài, Thiêm, Trị)
7, Ông Nguyễn Mậu Quều. Mất từ nhỏ.
8, Ông Nguyễn Mậu Diễn- là ông nội anh Huy.
 
- Cố Nguyễn Mậu Đào lấy vợ thứ 2 là Cố bà Trần Thị Khang. Người làng Trung Quán, xã Duy Ninh.
                                 Cố sinh hạ được 2 người con, một trai, một gái:
1, Ông Nguyễn Mậu Ngưỡng- Là ông nội của tôi, anh Thư, chú Huy,...
2, Bà Nguyễn Thị Chi vị- mất từ nhỏ.
 
          Xin nói rõ là Câm Nguyễn Mậu Ru có 4 vợ. Trong đó, vợ thứ nhất sinh hạ được 2 người con trai và 4 người con gái. Hai người con trai là Ngài Nguyễn Mậu Truyện và Ngài Nguyễn Mậu Hộ thuộc đời thứ 12, ngang hàng với cố Nguyễn Mậu Đào. hai Ngài Truyện và Hộ lấy vợ, sinh hạ ra con cháu nơi chổ o Choẵn, chị Thỏn, nhưng con cháu trai ở đây đều đã mất nên giao lại phái nhất cho Cố Nguyễn Mậu Đào kế thế cho đến ngày nay. Còn nếu như nơi chổ o Choẵn, chị Thỏn mà tồn tại con cháu trai thì đó mới chính là phái nhất của họ Nguyễn Mậu.
 
*                                                     Đời thứ 13:
          Là ông nội anh Cáo, anh Cỏng, anh Cưởng; ông nội anh Huy, ông nội anh Thư, tôi, chú Huy và cố nội các cháu Học,Thoài...
 
*                                                      Đời thứ 14:
           Là ba của anh Cáo, anh Cỏng, anh Cưởng; ba của anh Huy, ba của anh Thư, anh Hiển, ba của tôi, ba của chú Huy, Hiệp; là ông nội của các cháu Học, Thụ, Thoài, Thiêm, Trị.
*                                                    
                                                        Đời thứ 15:

          Là anh Cáo, anh Cỏng, anh Cưởng, anh Huy, anh Thư, anh Hiển, tôi, chú Huy, Hiệp.

*                                                        Đời thứ 16:
          Là bậc con của anh em chúng tôi như: anh Phong, anh Đạm, Lộc, Quý, Thi, Hải, Cường, Quốc, Học, Thụ, Thoài, Trị, Thiêm, con anh Huy, con anh Thư, Hiển, con tôi, con chú Huy, Hiệp.

*                                                         Đời thứ 17:
          Là cháu của chúng tôi, gọi hàng chúng tôi bằng ông nội.
 
*                                                         Đời thứ 18:
          Như cháu nội của anh Phong, cháu nội của anh Kỳ Thanh, gọi chúng tôi bằng cố
 
                                             Kính thưa bà con nội, ngoại!
          Đã là dòng tộc thì dòng họ nào cũng có truyền thống, bởi đó là sự phát triển có bề dày của cộng đồng những người có cùng dòng máu qua nhiều thế hệ. Trải qua bao cuộc bể dâu, biến cố thăng trầm của lịch sử, các thế hệ ông cha chúng ta luôn cần cù lao động, chịu thương chịu khó "Một nắng hai sương" "Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" để có mùa lúa con gái, có đồng xanh trải rộng. Đến mùa lúa chín, đồng vàng xào xạc, hương lúa thơm mùi mật ngọt "Một hạt thóc vàng, chín giọt mồ hôi".

          Từ bao đời nay, dòng tộc chúng ta có truyền thống con cháu tôn kính, phụng sự ông bà, tổ tiênĐây là truyền thống thứ nhất. Trong cuộc mưu sinh, có không ít con trai, cháu nội của dòng họ bám trụ nơi mẹ sinh ra, nơi cha dạy bảo, trọn đời thành kính thành tâm hương khói trên bàn thờ tổ tiên, ông bà; luôn chăm lo phần mộ tổ tiên, của những người thân, những bậc có công sinh thành, nuôi dưỡng. Và, cũng có không ít những người xa quê. Trong số họ, có những người luôn tâm niệm dẫu có ly hương nhưng trong tiềm thức, trong nổi nhớ, sâu tận trong tâm can không hề ly Tổ. Dẫu có xa xứ, có xa anh em, họ hàng, làng xóm, họ vẫn đau đáu nhớ về nguồn cội, nơi "Chôn nhau cắt rốn" "Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn", nơi có phần mộ của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nơi đó, có người luôn chăm lo phần mộ của người thân, của tổ tiên ông bà.

Truyền thống thứ hai làÝ thức cộng đồng bản địa.
          Từ thời xa xưa, các bậc liệt tông của chúng ta đã cùng với các bậc liệt tổ liệt tông các dòng họ khác trong làng chung sức chung lòng khai hoang phục hóa, mở ruộng lập làng, sinh cơ lập nghiệp, luôn có ý thức cộng đồng, bảo vệ làng xóm. Tôi lấy một ví dụ: đời thứ 12 là Tằng tổ khảo Nguyễn Mậu Đào (anh em chúng tôi- đời thứ 15 gọi Ngài bằng Cố. Ngài có tước: Hội chủ hữu công trợ tế đồng xã tương hậu thần. Chuyện kể rằng: Sau khi thống đốc quân vụ Đại tướng quân Hoàng Kế Viêm về hưu (ông ở làng Văn La, xã Lương Ninh)....... .........Do có công lớn trong việc giành lại đất ở Cồn Hà cho làng nên làng thưởng cho 3 họ 3 sào đất: họ Nguyễn Văn 1 sào, họ Nguyễn Mậu 1 sào và họ Võ 1 sào. ba sào đất này là 3 sào đất hương hỏa của 3 họ.

Truyền thống thứ ba của họ tộc là ý thức xã hội với quốc gia đại sự.
Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đã có biết bao người con của họ tộc Nguyễn Mậu có đủ " đức, trung, nghĩa, trí, dũng", có chí, có tài góp công, góp sức xây dựng quê hương, đất nước. Đời thứ 8, ta có Hiễn tằng tổ Đô đốc Phụng tường Hầu. Đời thứ 9, Ngài có tước Giảng võ bá. Đời thứ 10, Ngài có tước Tham mưu sĩ tấn hầu... Đời nối đời, đời nào họ Nguyễn Mậu cũng có con cháu theo nghiệp binh đao và theo nghiệp văn chương vì nghĩa cả, chí lớn.
...............................
                                 
                                              Kính bái các đấng tiên linh!
          Hôm nay, con cháu nội, ngoại dòng tộc Nguyễn Mậu, những người luôn đội ơn phúc ấm và giữ trọn truyền thống, đạo hiếu với các bậc liệt tổ liệt tông, những người luôn tâm niệm "Cây có cội, nước có nguồn, chim có tổ, người có tông" hội tụ sum vầy về đây, cùng hướng lên bàn thờ tổ tiên, ông bà để chầu hầu, thỉnh nguyện, mong cho đời nối đời con cháu họ Nguyễn Mậu luôn hưởng phúc ấm của ông bà, tổ tiên, sống hiếu thảo, mạnh khỏe, an khang, may mắn. Công đức của tổ tiên, ông bà họ Nguyễn Mậu mãi mãi lưu truyền cho con cháu và rạng rỡ đến mai sau; trăm năm phúc lộc tràn đầy, muôn đời vinh hiển.
 
                 Xin được đội ơn phù trì, phù hộ của các đấng tiên linh!
 
Đọc tại Lễ tế ngày 20 tháng 5 năm .....  Mùi                         
 
                    Bài này sẽ đọc tại Lễ Chầu lề họ Nguyễn Mậu năm 2015.
 

 

Tác giả bài viết: Thái Toản

[Trở về]


 

* Các ý kiến góp ý: